Tác giả : Luật sư Đan (Luật sư Trung Quốc tại Việt Nam)
Việc thi hành bản án của tòa án nước ngoài tại Trung Quốc dựa trên ba căn cứ chính: Điều ước quốc tế, hiệp định song phương, nguyên tắc tương hỗ.
Theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Dân sự mới, khi nộp đơn tại Trung Quốc để yêu cầu công nhận và thi hành bản án của nước ngoài, có ba căn cứ: điều ước quốc tế, hiệp định song phương hoặc nguyên tắc tương hỗ. Nếu cả ba đều không tồn tại, thì theo Điều 542 của “Giải thích Bộ luật Tố tụng Dân sự” [1], tòa án Trung Quốc sẽ ra quyết định bác đơn, trừ trường hợp bản án ly hôn [2].
(1) Các công ước quốc tế
Hai công ước liên quan đến Trung Quốc lần lượt là Công ước về Thỏa thuận Lựa chọn Tòa án năm 2005 và Công ước về Công nhận và Thi hành Bản án Dân sự và Thương mại nước ngoài năm 2019.
Công ước năm 2005 về Thỏa thuận Lựa chọn Tòa án áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các bản án do tòa án nước ngoài ban hành trong các vụ việc dân sự và thương mại quốc tế, dựa trên thỏa thuận lựa chọn tòa án độc quyền do các bên ký kết. Điều 3 của Công ước đưa ra định nghĩa về “thỏa thuận lựa chọn tòa án độc quyền”, bao gồm hai trường hợp: lựa chọn độc quyền rõ ràng và lựa chọn độc quyền suy định:
(1) Lựa chọn độc quyền rõ ràng: là thỏa thuận bằng văn bản do hai bên hoặc nhiều bên ký kết nhằm giải quyết các tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh liên quan đến một quan hệ pháp lý cụ thể, trong đó chỉ định tòa án của một quốc gia thành viên hoặc một hoặc nhiều tòa án cụ thể của quốc gia đó, đồng thời loại trừ thẩm quyền của mọi tòa án khác;
(2) Lựa chọn độc quyền suy định: trừ khi các bên có thỏa thuận rõ ràng khác, thì thỏa thuận lựa chọn tòa án chỉ định tòa án của một quốc gia thành viên hoặc một hoặc nhiều tòa án cụ thể của quốc gia đó sẽ được coi là có tính độc quyền. Để biết thêm chi tiết về công ước, vui lòng tham khảo bài viết “Phân tích Công ước về Thỏa thuận Lựa chọn Tòa án và khuyến nghị đối với các tổ chức tài chính” do Viện nghiên cứu King & Wood Mallesons (KWM) công bố.
Trung Quốc đã ký Công ước về Thỏa thuận Lựa chọn Tòa án năm 2005 vào ngày 12 tháng 9 năm 2017, nhưng hiện công ước vẫn đang chờ Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc phê chuẩn. Do đó, hiện tại các bên đương sự vẫn chưa thể căn cứ vào Công ước này để yêu cầu tòa án Trung Quốc công nhận và thi hành bản án nước ngoài.
Công ước năm 2019 về Công nhận và Thi hành Bản án Dân sự và Thương mại nước ngoài áp dụng đối với việc công nhận và thi hành các bản án do tòa án nước ngoài ban hành trong các vụ án dân sự và thương mại. Phạm vi điều chỉnh của công ước này rộng hơn so với Công ước về Thỏa thuận Lựa chọn Tòa án. Để biết thêm chi tiết về công ước, vui lòng tham khảo bài viết “Tương lai đầy triển vọng: hơn hai mươi năm gian khổ, Công ước về công nhận và thi hành bản án dân sự và thương mại nước ngoài cuối cùng đã được thông qua” do Viện nghiên cứu King & Wood Mallesons (KWM) công bố.
Trung Quốc đã tham gia quá trình đàm phán công ước, và vào ngày 3 tháng 7 năm 2019 đã ký vào văn bản cuối cùng của Công ước. Tuy nhiên, hiện tại Trung Quốc vẫn chưa phê chuẩn công ước này, vì vậy các bên đương sự hiện vẫn chưa thể dựa vào Công ước về Công nhận và Thi hành Bản án Dân sự và Thương mại nước ngoài để yêu cầu tòa án Trung Quốc công nhận và thi hành bản án nước ngoài.
(2) Hiệp định song phương
Tính đến năm 2023, Trung Quốc đã ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp song phương về dân sự và thương mại với hơn 30 quốc gia (bao gồm Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan, Hy Lạp, Nga, Hàn Quốc, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, v.v.), trong đó phần lớn các hiệp định đều quy định nội dung về công nhận và thi hành bản án nước ngoài. Đối với các bản án dân sự và thương mại do tòa án của những quốc gia đã ký hiệp định song phương với Trung Quốc ban hành, đương sự có thể trực tiếp căn cứ vào quy định của hiệp định song phương để nộp đơn yêu cầu tòa án Trung Quốc công nhận và thi hành.
(3) Nguyên tắc tương hỗ
Trong trường hợp không có cơ sở từ công ước quốc tế hoặc hiệp định song phương, hoặc mặc dù có nhưng phạm vi điều chỉnh của các công ước/hiệp định đó đối với việc công nhận và thi hành bản án bị hạn chế, đương sự vẫn có thể căn cứ vào nguyên tắc tương hỗ (quan hệ có đi có lại) để yêu cầu tòa án Trung Quốc công nhận và thi hành bản án nước ngoài. Trên thực tế, do số lượng quốc gia có hiệp định song phương với Trung Quốc còn hạn chế, nên phần lớn các bản án nước ngoài muốn được công nhận và thi hành tại Trung Quốc hiện nay đều phải dựa vào nguyên tắc tương hỗ.
Trong thời gian dài, tòa án Trung Quốc áp dụng quan điểm “tương hỗ thực tế”, tức là lấy việc tòa án nước ngoài đã từng có tiền lệ công nhận và thi hành bản án dân sự, thương mại của Trung Quốc làm tiêu chuẩn để xác định giữa hai nước có tồn tại quan hệ tương hỗ hay không. Do điều kiện này rất khó đáp ứng, nên số vụ việc Trung Quốc công nhận và thi hành bản án nước ngoài dựa trên tương hỗ không nhiều. Để giải quyết vấn đề này, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Biên bản Hội nghị công tác xét xử dân sự, thương mại và hàng hải liên quan yếu tố nước ngoài toàn quốc năm 2022, trong đó Điều 44 đã làm rõ tiêu chuẩn xác định quan hệ tương hỗ.
Điều 44 quy định: Khi Tòa án nhân dân xét xử các vụ việc yêu cầu công nhận và thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, nếu thuộc một trong các trường hợp sau thì có thể xác định là tồn tại quan hệ tương hỗ:
(1) Theo pháp luật của quốc gia nơi tòa án đó đặt trụ sở, thì các bản án, quyết định dân sự và thương mại do Tòa án nhân dân Trung Quốc ban hành có thể được tòa án của quốc gia đó công nhận và thi hành;
(2) Trung Quốc và quốc gia nơi tòa án đó đặt trụ sở đã đạt được sự hiểu biết hoặc đồng thuận về nguyên tắc tương hỗ;
(3) Quốc gia nơi tòa án đó đặt trụ sở đã thông qua con đường ngoại giao đưa ra cam kết tương hỗ đối với Trung Quốc, hoặc Trung Quốc cũng đã thông qua con đường ngoại giao đưa ra cam kết tương hỗ đối với quốc gia đó, và không có bằng chứng chứng minh rằng quốc gia đó từng từ chối công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân Trung Quốc với lý do không tồn tại quan hệ tương hỗ. Tòa án nhân dân khi xem xét có tồn tại quan hệ tương hỗ hay không phải tiến hành thẩm tra từng vụ việc cụ thể.
Loại tình huống thứ (1) nêu trên là “tương hỗ pháp lý” . Tháng 3 năm 2022, sau khi xin ý kiến của Tòa án Nhân dân Tối cao, Tòa án Hàng hải Thượng Hải trong vụ án số (2018) Hu 72 Xiewairen No.1 giữa Công ty SPAR Shipping Limited và Công ty TNHH Tập đoàn Logistics Đại Hoa (Dahanhua Logistics Holding Group), khi xem xét đơn yêu cầu công nhận bản án của tòa án Anh, đã lần đầu tiên áp dụng tiêu chuẩn “tương hỗ pháp lý”, xác định rằng giữa Trung Quốc và Vương quốc Anh tồn tại quan hệ tương hỗ trong việc công nhận và thi hành các bản án dân sự, thương mại. Vụ án này không yêu cầu phải có tiền lệ phía tòa án Anh công nhận và thi hành bản án của Trung Quốc, do đó đã thay đổi cách tiếp cận “tương hỗ thực tế” trước đây của tòa án Trung Quốc. Đây là vụ án mang tính đột phá, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong thực tiễn xét xử về nguyên tắc tương hỗ.
Loại tình huống thứ (2) là chỉ trường hợp hai quốc gia đã đạt được ý hướng hoặc sự đồng thuận về việc công nhận và thi hành bản án lẫn nhau, nhưng không bắt buộc phải ký kết điều ước quốc tế. Ví dụ, các tài liệu như “Một số ý kiến của Tòa án Nhân dân Tối cao về việc cung cấp dịch vụ tư pháp và bảo đảm cho xây dựng “Vành đai và Con đường”” hoặc “Tuyên bố Nam Ninh của Diễn đàn Chánh án Tối cao Trung Quốc – ASEAN lần thứ hai” đều có thể được xem là căn cứ thể hiện sự đồng thuận này giữa các quốc gia.
Loại tình huống thứ (3) là trường hợp một quốc gia đơn phương đưa ra cam kết tương hỗ đối với quốc gia khác; cam kết đơn phương này có hiệu lực khi được đưa ra. Trên thực tế, Trung Quốc từng thông qua kênh hỗ trợ tư pháp để gửi yêu cầu công nhận và thi hành bản án đến một số quốc gia không có quan hệ điều ước, đồng thời trong yêu cầu đó cũng đưa ra cam kết tương hỗ (tham khảo vụ Trung Quốc yêu cầu Azerbaijan công nhận và thi hành bản án dân sự Trung Quốc). Trong trường hợp có cam kết đơn phương, nếu Trung Quốc nhận được yêu cầu công nhận và thi hành bản án của quốc gia kia, chỉ cần quốc gia đó chưa từng từ chối công nhận và thi hành bản án của Trung Quốc với lý do không tồn tại quan hệ tương hỗ, thì Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ cam kết này.
Cần lưu ý rằng, do quan hệ tương hỗ chịu ảnh hưởng bởi tình hình quốc tế và quan hệ ngoại giao, việc tòa án xác định có tồn tại quan hệ tương hỗ trong từng vụ việc không mang giá trị án lệ bắt buộc. Vì vậy, một vụ án trước đó nếu phủ nhận quan hệ tương hỗ không có nghĩa là các vụ án sau không thể xác định có quan hệ tương hỗ.
——————————————————————————————————————
Thông báo đặc biệt
Không được phép sao chép bất kỳ nội dung văn bản, hình ảnh, âm thanh và video (nếu có) trong bài viết này khi chưa được ủy quyền. Nếu có nhu cầu chia sẻ hoặc trích dẫn, vui lòng liên hệ với chúng tôi để được ủy quyền, đồng thời phải ghi rõ nguồn và thông tin tác giả khi chia sẻ.
Nội dung của bài viết này chỉ nhằm mục đích trao đổi thông tin và không đại diện cho quan điểm, đề xuất hoặc cơ sở ra quyết định pháp lý của Chi nhánh Văn Phòng Luật sư Ying Ke Thành phố Bắc Kinh tại Hà Nội hoặc Đội ngũ luật sư của văn phòng. Nếu bạn cần hỗ trợ tư vấn pháp lý hoặc phân tích chuyên môn, vui lòng liên hệ với chúng tôi.
——————————————————————————————————————
Nếu bạn có nhu cầu pháp lý đầu tư vào nước ngoại vui lòng liên hệ với chúng tôi như sau:
Chi nhánh Văn phòng luật sư Yingke thành phố Bắc Kinh tại Hà Nội
Địa chỉ: Lô A1L3-04+05, tòa A1 Dự án Ecolife Capitol, 58 Tố Hữu, phường Mễ Trì, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Người liên hệ: Luật sư Zhang Zhi Dan
Điện thoại: + 84 859600354(Việt Nam)
Zalo: (+86)13481033546



Để lại một bình luận